Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế ?

Cả một dân tộc giỏi làm kinh tế
Chúng ta đều biết người Do Thái (thời cổ gọi là Hebrew) là dân tộc thành công nhất trên nhiều lĩnh vực trí tuệ, nhưng có lẽ ít ai biết họ thực ra còn cực kỳ xuất sắc trên mặt kinh tế, tài chính, thương mại.
Họ đạt được những thành tựu đó trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn: toàn bộ dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, “ăn nhờ ở đợ” suốt 2000 năm qua trên khắp thế giới, đi tới đâu (trừ ở Mỹ) cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man, bị cấm được sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên ....
Chỉ cần lướt các mạng tìm kiếm là ta có thể sưu tầm được ngay một số thành tựu cực kỳ gây ấn tượng của người Do Thái trên lĩnh vực kinh tế, dù là về mặt lý thuyết hay thực tiễn. Hãy xem một số số liệu sau đây:
Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng vô cùng to lớn nếu không nói là quyết định tới quá trình trình tiến hóa của nhân loại:
- Karl Marx (Các Mác) người khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);
- Alan Greenspan 17 năm liền được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang (FED, tức Ngân hàng Nhà nước Mỹ) nắm quyền sinh sát lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu;
- Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển;
- 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008) … là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng...
Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người :
- Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy.
- Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ năm 2007, với tài sản cá nhân lên tới 26,5 tỷ USD.
- George Soros giàu thứ 28 ở Mỹ (7 tỷ USD) nổi tiếng thế giới hiện nay về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn.
- Michael Bloomberg có tài sản riêng 5,1 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế, đang được mong đợi sẽ là ứng cử viên Tổng thống Mỹ khóa tới...
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới là quần thể thiểu số thành công nhất ở Mỹ dù chỉ chiếm 2,5% số dân. Khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ, 21 trong số 40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes là người Do Thái, và cộng đồng Do Thái có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của nước này.
Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính Mỹ, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel.
Nước Israel nhỏ bé với hơn 5 triệu người Do Thái tuy ở trên vùng sa mạc khô cằn nhưng nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đều rất phát triển, dân rất giàu, GDP đầu người năm 2003 bằng 19.000 USD. Nhờ sức mạnh mọi mặt ấy, quốc gia nhỏ xíu này đã đứng vững được trong làn sóng hằn thù và công kích của cả trăm triệu người A Rập xung quanh ...
Nguyên nhân do đâu?
Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy? Lịch sử đã chứng minh, yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc ấy.
Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua.
Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.
Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.
Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người.
Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi.
Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.
Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho, ta cần phân tích thêm.
Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”.
Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.
Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.
Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.
Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật.
Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David ... đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.
Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái.
Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn.
Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.
Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (còn ai kiếm tiền dễ hơn ngành ngân hàng?).
Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Bạn nào đã đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebeca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Kịch của Shakespeare đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án.
Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái.
Người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng cúng 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.
Theo Nguyễn Hải Hoành
Dongtac
Source: http://home.trithucvn.net/taichinh/662-vi-sao-ngi-do-thai-gii-lam-kinh-t-
Warrent Buffet: 'Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi'


Nhà đầu tư cá nhân có lý do để không sao chép các giao dịch của Warrent Buffet, nhưng nhiều bài học có thể được rút ra từ những quyết định gần đây của vị tỷ phú được mệnh danh là Nhà tiên tri của Ohama.

Sau khi nắm tiền mặt trong nhiều năm, tập đoàn Berkshire Hathaway của tỷ phú Warrent Buffet thời gian gần đây đã bắt đầu giải ngân và thực hiện nhiều cuộc thâu tóm lớn trên phố Wall

Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi

Đây có lẽ là châm ngôn nổi tiếng nhất của Warrent Buffet: "Hãy biết sợ khi người khác đang tham lam và tham lam khi mọi người đang sợ hãi". Đang có quá nhiều dấu hiệu cho nhà đầu tư đang sợ hãi, và mọi người đều cố rút khỏi thị trường.

Trái lại, Buffet lại bắt đồng tiền của ông làm việc. Theo thống kê từ tập đoàn Berkshire, số dư tiền mặt của hãng đang thấp nhất trong thời gian gần đây.

Điều đó không có nghĩa thị trường sẽ đảo chiều trong nay mai. Quan điểm của Buffet, hiện tại không phải là lúc rút vốn khỏi chứng khoán. Thực tế, đây là cơ hội để tìm kiếm cổ phiếu tốt với giá thấp.

Đặc biệt là cơ hội từ các tập đoàn hàng đầu của các ngành công nghiệp. Chỉ trong vòng hai tuần, Buffer đã mua vào lần lượt 4,7 tỷ đôla cổ phiếu của Constellation Energy, 3 tỷ đôla cổ phiếu ưu đãi của General Electric. Bên cạnh, hai đại gia trong lĩnh vực điện và công nghiệp nặng, Buffet còn gom vào 5 tỷ đôla cổ phiếu ưu đãi, với tỷ lệ cổ tức lên tới 10%, của đại gia tài chính Goldman Sachs


Không nên do dự vì những sai lầm trong quá khứ

Buffet đầu tư vào Goldman Sachs đã gây ngạc nhiên cho khá nhiều người. Những thương vụ đầu tư trước đó vào cổ phiếu tài chính của ông đã không đạt được thành công như mong đợi.

Vào năm 1987, Buffet mua lại cổ phần của Ngân hàng Đầu tư Salomon. Tuy nhiên, hãng này sau đó đã suýt sụp đổ do những scandal liên quan đến trái phiếu. Sự việc trên khiến ông buộc phải đóng vai trò chủ tịch lâm thời của hãng. Dù cuối cùng khoản đầu tư này vẫn mang lợi nhuận, khi Salomon được bán với giá khá hời, nhưng có thể nói không ngoa rằng "cuộc phiêu lưu" với tập đoàn tài chính trên là khó khăn và lâu dài hơn so với dự tính của Buffet.

Dẫu sao, nhà đầu tư lão luyện Buffet hiểu rằng bất kể các rủi ro sẵn có, ngân hàng đầu tư sẽ là một công việc kinh doanh hấp dẫn nếu được quản lý một cách đúng đắn. Goldman Sachs nằm trong số ít các ngân hàng đầu tư hàng đầu, có tầm hưởng lớn đến khối tài chính, không phải là một lựa chọn tồi.

Bài học dành cho các nhà đầu tư cá nhân là dù cổ phiếu tài chính, hay nhiều nhóm khác tại phố Wall, rớt giá thê thảm, không có nghĩa bạn nên quay lưng lại với cổ phiếu tài chính. Ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn, vẫn có những cổ phiếu tốt đáng để mua vào.
Bên cạnh đó, Buffet không phải lúc nào cũng đúng. Có khá nhiều giao dịch của ông là không chính xác, tuy nhiên ông luôn biết cách cắt lỗ sớm và để lợi nhuận của mình sinh sôi.

Đừng "phải lòng" bất kỳ cổ phiếu nào
Buffet nổi tiếng với tuyên bố, thích mua và nắm giữ cổ phiếu mãi mãi. Tuy nhiên, người giàu nhất thế giới (tính tới tháng 3/2008) luôn sẵn sàng bán ra nếu cảm thấy thị trường đi vào xu hướng giảm. Năm ngoái, ngay khi giá dầu tiếp cận mức 100 đôla một thùng, Buffet đã rút tiền khỏi cổ phiếu của PetroChina.

Lý do của quyết định trên rất đơn giản. Sau khi lên giá gấp 5 lần thời điểm Buffet mua vào, giá cổ phiếu của PetroChina đã hết hấp dẫn. Kể từ khi Buffet thanh khoản, cổ phiếu của PetroChina đã mất giá một nửa.

Tương tự, Buffet đã đưa ra một trong những quyết định sáng suốt nhất của mình khi quyết định bán cổ phần của Freddie Mac, chứng khoán từng được tập đoàn Berkshire Hathaway của ông nắm giữ dài hạn, vào năm 2000.

Quyết định của "Nhà tiên tri vùng Omaha" (biệt danh của Warrent Buffet) dựa trên kinh nghiệm không mấy dễ chịu mà ông thu được trong những năm cuối thế kỷ 20, khi bong bóng chứng khoán nổ ra. Vào năm 2003, ông đã từng thừa nhận"Tôi đã phạm sai lầm lớn khi không bán nhiều cổ phần trong giai đoạn cuộc khủng hoảng dotcom".


Tiền mặt là vua

Trong nhiều trường hợp khi mọi người đua nhau đổ tiền vào thị trường tài chính, Buffet vẫn điều hành Berkshire theo phương thức khá thận trọng, nắm giữ nhiều tiền mặt. Chiến thuật trên cho phép ông đạt được những hợp đồng "cả đời mới có một lần", như trường hợp của Constellation Energy.

Ngay khi cổ phiếu của Tập đoàn Điện lực hàng đầu này rơi từ 60 đôla xuống 26,5 đôla, Buffet đã mua vào một lượng lớn cổ phiếu. Kết quả là chỉ với 5 tỷ đôla, ông đã sở hữu một công ty hàng năm sản sinh lợi nhuận 1 tỷ đôla.

Thế nên, ngay cả trong thời điểm thích hợp để gom cổ phiếu, Buffet vẫn cho rằng sẽ khôn ngoan hơn nếu có một khoản tiền mặt dự trữ. Bên cạnh đó, không nên đầu tư vào cổ phiếu mà bạn không hoàn toàn tự tin.

Xuân Hòa (Theo CNN)
source: http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/chung-khoan/2008/11/3ba08589/ (Thứ tư, 12/11/2008, 16:57 GMT+7)





2 nguyên tắc đầu tư của Buffett và Soros
Hai nhà đầu tư nổi tiếng nhất thế giới Warren Buffett và George Soros có nhiều chiến lược đầu tư khác nhau, nhưng ở họ có chung 2 nguyên tắc, giúp đảm bảo lợi nhuận cho những khoản đầu tư.
 
Tác giả chuyên viết sách về đầu tư tài chính Mark Tier, đồng thời là một nhà đầu tư có tiếng tại Hong Kong, đã rút ra nhận xét này. Ông cho rằng, những nguyên lý cơ bản này ai cũng có thể hiểu và áp dụng, nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng luôn sáng suốt để thực hiện. Vì thế, số tỷ phú đầu tư mới đếm trên đầu ngón tay.

Nguyên tắc đầu tiên trong đầu tư là phải bảo toàn vốn, vì thế hãy tránh xa những cổ phiếu có nguy cơ rủi ro cao. Nhà đầu tư nên rót vốn vào những trường hợp rủi ro được đánh giá thấp hơn mức trung bình trên thị trường.

Giữ cho các khoản phí giao dịch và thuế ở mức thấp cũng là một nguyên tắc. Qua thời gian, đồng vốn ở những cổ phiếu tốt sẽ sinh lời, và lượng vốn càng được duy trì ổn định, lợi nhuận càng có thể tăng cao.

Cả Warren Buffett và George Soros đều không thích liên tục đa dạng hóa danh mục đầu tư và rải tiền từ hết doanh nghiệp này đến công ty kia để phân tán rủi ro, mà chỉ tập trung vào những doanh nghiệp thực sự có tiềm năng. Cùng lúc, họ chỉ đầu tư vào những vị thế giao dịch mà họ thực sự hiểu biết và liên tục tìm kiếm các lựa chọn mới.

Một khi đã tìm được các lựa chọn như vậy, thông thường là tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực, họ sẽ mua đến hết khả năng nhằm tối đa hóa lợi nhuận về sau. Họ cũng giữ kín thông tin về việc đang làm và rút kinh nghiệm từ những sai lầm trong quá khứ, thay vì lặp lại các sai lầm đó.

Thứ hai, nói "không" với các khoản nợ. Những nhà đầu tư thành công thường là những người có ý định đầu tư lâu dài và chuyên tâm vào những cổ phiếu đã chọn. Họ dần có thói quen bỏ ra lượng tiền ít hơn vốn đang có để đầu tư và tránh xa việc vay nợ. Đầu tư một cách căn cơ sẽ tạo ra lợi nhuận trong dài hạn, trong khi vay nợ để đầu tư mang lại kết quả ngược lại.

Nói như vậy không có nghĩa những nhà đầu tư huyền thoại không bao giờ dùng chiến thuật đòn cân (leverage) nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng đây chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ quá trình đầu tư của họ. Mặt khác, các nhà đầu tư này luôn tuân thủ các quy định tự đề ra rất nghiêm ngặt, như việc thoát khỏi thị trường ở một mức giá được đặt ra ngay từ khi mua cổ phiếu.

Ngọc Châu (theo Ameinfo)
Source: http://home.trithucvn.net/taichinh/638-2-nguyen-tc-u-t-ca-buffett-va-soros


Học+Làm = giàu

Tiền trở thành tư bản, hay vốn, như thế nào? Đó là một câu hỏi lớn, ám ảnh không chỉ các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith và Karl Marx, mà cả các tác giả đương đại. Một câu hỏi lớn khác cũng liên quan đến tư bản là: Tại sao chủ nghĩa tư bản lại chỉ thịnh vượng ở các nước phương Tây chứ không phải ở phần còn lại của thế giới?
“Bí ẩn của vốn” được De Soto công bố năm 2000. Lập tức nó trở thành bestseller trên toàn thế giới và được coi là tác phẩm kinh điển của kinh tế học. Lời giải thích của de Soto thật độc đáo: tất cả nằm ở hệ thống quyền sở hữu. Nếu các quyền đối với tài sản không được chứng minh một cách thỏa đáng bằng văn bản, những tài sản đó không thể chuyển thành vốn. Chúng chỉ là những tài sản chết, không thể sử dụng làm vật thế chấp cho một khoản vay hay để đầu tư. Trong khi đó, ở phương Tây, mọi tài sản đều được thể hiện bằng văn bản, cho phép chúng có thêm một cuộc sống vô hình sống động bên cạnh sự tồn tại vật chất. Nhờ thế, chúng hóa thành tư bản, thành máu của nền kinh tế.

“Bí ẩn của vốn” là tác phẩm không thể không đọc của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế và bất kỳ ai quan tâm đến sự phát triển và vận mệnh của dân tộc.
Năm 1989, lần đầu tiên De Soto thu hút được sự chú ý của công chúng với cuốn Một con đường khác, cuốn sách ông viết về những trở ngại của doanh nhân. Là cố vấn cho Tổng thống Peru Alberto Fujimori, ông đã điều hành một dự án bảo đảm quyền sở hữu tài sản và xoá bỏ tệ quan liêu. Nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện phải mất 728 thủ tục hành chính để có được một ngôi nhà ở Thủ đô Lima, Peru. Viện nghiên cứu ILD của ông đặt tại Lima cũng đã phát hiện ra những điều tương tự ở Ai Cập, IndonesiaHaiti. Năm 2001, ông đã viết cuốn: Sự bí ẩn của vốn được giới học giả và các nhà chiến lược phát triển đánh giá cao đặc biệt. Hiện nay, De Soto đang làm cố vấn cho Tổng thống Mêhicô Vicent Fox. Chúng tôi xin giới thiệu tóm lược những chủ đề chính của cuốn sách cũng như những tư tưởng chính của ông qua cuộc phỏng vấn.
Hàng thế kỷ qua, đói nghèo luôn là vấn đề không thể tránh khỏi ở các nước đang phát triển. Tại sao phần lớn người dân vẫn bị ách lại trong cảnh nghèo khổ? Sự tồn tại song hành của nghèo đói với sung túc là câu hỏi hóc búa nhất trong tất cả các nền kinh tế, và nó chính là chủ đề một cuốn sách gây tranh cãi của nhà học giả người Peru, Hernando de Soto. Trong cuốn sách Sự bí ẩn của vốn, mặc dù Soto đã giản đơn hoá rất nhiều giải pháp cho vấn đề nghèo đói, bài viết của ông có giá trị lớn khi nhấn mạnh một vấn đề vẫn thường bị đánh giá thấp: Sự thất bại của hệ thống luật pháp trong việc công nhận và tôn trọng tài sản của người nghèo.
De Soto viết: Người dân ở những nước chậm phát triển cũng khôn khéo và  có đầu óc kinh doanh như người dân ở những nước giàu có. Vấn đề khác biệt then chốt là vì phần lớn họ sống trong những ngôi nhà không phải là chủ sở hữu thực sự. Họ không có quyền pháp lý đối với đất đai, nhà cửa hoặc công việc kinh doanh. Họ không thể sử dụng chúng như những đồ ký quỹ hoặc vay mượn khi cần thiết. Họ cũng không thể sử dụng những dịch vụ thiết yếu như điện, nước. Và nếu họ có tích luỹ được tài sản, họ sẽ gặp rủi ro khi bị những rào cản từ phía Chính quyền.
Cuốn sách cho rằng, hệ thống luật pháp ở các nước đang phát triển hoạt động không tốt. Chính những thất bại đó đã làm những dãy nhà ổ chuột lụp xụp xuất hiện ngay ngoại ô những thành phố lớn của các nước đang phát triển. De Soto viết: “Điều mà các nhà lãnh đạo đất nước này đang bỏ qua chính là vấn đề người dân đang tự ý tách riêng thành những nhóm nhỏ ngoài luật pháp cho đến khi chính phủ đưa ra một hệ thống luật pháp mới cụ thể.”
De Soto và các đồng nghiệp đã tính toán rằng, ở các nước đang phát triển người dân nghèo sở hữu khoảng 9 nghìn tỷ $ tài sản một cách không chính thức , chủ yếu dưới dạng nhà cửa. Con số này vượt xa tất cả các khoản viện trợ quốc tế cho các nước đang phát triển. Nhưng điều quan trọng là số tài sản này của họ không được công nhận ở đâu cả, và họ không thể sử dụng chúng để vay mượn. De Soto lập luận rằng, cải cách hệ thống luật pháp sẽ giải phóng “nguồn vốn chết” đó, biến chúng thành động cơ tăng trưởng, như vốn ở các nước giàu có.
De Soto ủng hộ quan điểm cho rằng, biến những mảnh đất nhảy dù thành những khoản vốn- dù nhỏ- bằng cách trao cho người dân quyền sở hữu. De Soto đã giải thích, vào thế kỷ 19, Hoa Kỳ đã thực hiện điều đó chính xác như thế nào, khi Quốc hội và Toà án Tối cao trao quyền sở hữu tài sản cho những người đến sống định cư trong những khu nhà ổ chuột và những người tìm vàng.
Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển thường không quan tâm đến người nghèo. Nghiên cứu của Viện ILD nơi De Soto công tác về nền kinh tế ngầm ở Thế giới thứ ba đã chứng minh rằng, người nghèo thực ra không đến mức quá nghèo khổ. ở Peru, riêng tài sản của người nghèo đã có giá trị khoảng 315 tỷ $ - gấp 7 lần giá trị tài sản của công ty dầu mỏ quốc gia Pemex. Cũng tương tự, tổng cộng tài sản thuộc sở hữu của người nghèo ở Ai Cập là 240 tỷ $, bằng 55 lần đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quãng thời gian hơn 200 năm, bao gồm cả chi phí xây dựng kênh đào Suez và Đập Aswan.
Các nước nghèo cũng đã chứng minh được rằng, họ có thể cải thiện tình trạng không rõ ràng trong sở hữu tài sản. Ví dụ, năm 1990, Công ty Điện thoại Peru (CPT) đã ghi tên vào thị trường chứng khoán Lima với giá trị ban đầu là 53 triệu USD. Nhưng sau đó, chính phủ Peru đã không thể nhượng bán CPT cho các nhà đầu tư nước ngoài với lý do: rất khó xác định quyền sở hữu của CPT với tài sản của họ. Ngay lập tức, chính phủ Peru đã đề ra các quy phạm pháp luật, quy định tài sản được tiêu chuẩn hoá theo chuẩn mực kinh tế toàn cầu. Kết quả là tài sản của CPT đã dễ dàng chuyển thành cổ phần. Những quy phạm tiêu chuẩn đó được ghi lại thành văn bản luật để đảm bảo quyền lợi cho phía thứ ba, đồng thời tạo lòng tin vào các nhà đầu tư cũng như hình thức tài chính tín dụng. Hệ thống văn bản pháp luật mới này cũng đề ra quy định rõ ràng, giải quyết tranh chấp tài sản có liên quan đến cả vấn đề tham nhũng. Ba năm sau, vốn luân chuyển của CPT đã là 2 tỷ $ - bằng 37 lần giá thị trường ban đầu. Tài sản của người nghèo cũng có thể được thừa nhận hợp pháp và chính nguồn đó sẽ hình thành vốn tiềm năng.
Đối với các nước giàu có, lịch sử phát triển là một câu chuyện về chính phủ đã lắng nghe và biến “luật của dân chúng” thành những quy tắc chung như thế nào để mọi người dân đều hiểu và tôn trọng. Tầng lớp những người giàu có kiểm soát được quyền sở hữu nhà cửa, tài sản… của riêng mình, họ đã có được những lợi thế cực kỳ to lớn so với  5/6 dân số nghèo khổ còn lại. Với quyền sở hữu tài sản, cổ phần và luật tài sản như vậy, họ đã có thể tiến xa hơn rất nhiều bằng cách vừa coi tài sản của họ như một vật hiện hữu có giá trị sử dụng (nhà cửa làm nơi cư ngụ), vừa có giá trị (dùng làm tín dụng thế chấp hoặc mở rộng kinh doanh). Bằng một hệ thống sở hữu tài sản hội nhập và mở rộng, các quốc gia phát triển đã tạo giúp người dân của họ thoát khỏi tầng hầm bụi bặm của thế giới cũ, giúp họ bước sang một vương quốc mới, nơi mà tài sản biến thành đồng vốn và sinh ra lợi nhuận.
Vấn đề của người dân nghèo thực ra không phải như chúng ta vẫn thường nghĩ mà nằm ở giải pháp đưa họ thoát khỏi cảnh khó khăn. Đã đến lúc đưa định nghĩa nghèo đói ra ngoài hệ thống luật pháp bảo thủ, vẫn thường coi quy định pháp luật là dinh thự kiên cố không thể di chuyển, và trao vấn đề đó vào tay các chính trị gia, những người hiểu rõ hơn ai hết luật pháp là một sự đồng thuận xã hội.
Làm sao để chuyển tài sản thành vốn
Đã qua ba thế kỷ, vốn vẫn là nguồn tạo cảm hứng cho các nhà tư tưởng. “theo Marx, bạn cần phải vượt qua khỏi phạm vi vật lý để đụng đến ‘con gà đẻ trứng vàng’; Adam Smith thì cho rằng bạn phải tạo ra ‘một chuyến xe bay trên không trung để đến được chú gà đó. Nhưng không ai cho chúng ta biết chú gà này ẩn nấp ở đâu. Vốn là gì, nó được tạo ra như thế nào và liên quan đến tiền ra sao?”. De Soto tóm tắt chìa khóa đi đến bí ẩn này như sau:
¾    Tập trung vào tiềm năng kinh tế của tài sản: vốn sẽ được sinh ra trong một cơ chế theo đó người sở hữu được phép tách nguồn lực khỏi giới hạn vật chất của nó và tập trung nhiều hơn vào tiềm năng sinh lời.
¾    Hợp nhất thông tin phân tán thành một hệ thống: Lý do các nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả ở các nước phát triển và không hiệu quả ở các nước đang phát triển là đa số tài sản ở các nước giàu đều đã được hợp nhất vào một hệ thống đặc trưng chính thức.
¾    Làm cho mọi người có trách nhiệm: làm cho người sở hữu và có thu nhập từ tài sản phải có trách nhiệm tạo ra cảm giác an toàn và đảm bảo cho các nhà đầu tư.
¾    Sử dụng tài sản cho nhiều mục đích: chuyển đổi tài sản trong điều kiện khó tiếp cận sang điều kiện dễ tiếp cận hơn.
¾    Nối kết người dân: làm cho tài sản dễ chuyển đổi mục đích, thực thi quyền sở hữu và làm cho thông tin dễ tiếp cận hơn; khi đó tài sản sẽ di chuyển một cách tự do giữa người dân.
¾    Bảo vệ các giao dịch: thông qua luật pháp, bằng khoán, hợp đồng, v.v. bằng cách tập trung vào sự an toàn của các giao dịch, các nước giàu cho phép công dân di chuyển một lượng lớn tài sản với số lượng giao dịch rất ít.
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA DE SOTO[1]
Trong phần đầu tiên của cuốn sách “Sự bí ẩn của vốn”, ông đã viết, “Những khoảnh khắc vinh quang nhất của kinh tế thị trường cũng là những giờ phút khủng hoảng của nó. Bức tường Berlin sụp đổ đã đặt dấu chấm hết cho hơn một thế kỷ cạnh tranh chính trị giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Vào thời điểm lịch sử đó, không một quốc gia có sự lựa chọn nào khác. Và kết quả là những nước đang phát triển và các quốc gia cộng sản trước đây, cùng với các cấp độ nhiệt tình của mình, đã lập tức cân đối lại ngân sách, cắt bỏ bao cấp, mở cửa cho đầu tư nước ngoài và bãi bỏ các rào cản thuế khoá. Nhưng những nỗ lực vô cùng của họ đã bị đáp lại bằng một sự thất vọng cay đắng. Từ nước Nga cho đến Venezuela, suốt những năm cuối của thập kỷ 90 là khoảng thời gian dài nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề và sụp đổ. Tất cả tràn ngập một nỗi lo lắng, sợ hãi và oán giận.”. Vậy theo ông, tại sao lại có sự thất vọng cay đắng như vậy?
Tôi nghĩ, một cách hữu hiệu để nhìn nhận thấu đó vấn đề đó là trước tiên chúng ta hãy nhìn vào các số liệu. Dân số thế giới là 6 tỷ, trong đó có 1 tỷ người mà mọi người gọi là “Phương Tây”, bao gồm: Tây Âu, Mỹ, Canada, và Nhật Bản cùng hai thuộc địa cũ là Đài Loan và Hàn Quốc, và cả Hồng Kông, Singapore. Các nước còn lại bao gồm: các quốc gia cộng sản trước đây, các quốc gia đang phát triển chiếm 5/6 dân số còn lại. Tuy nhiên, chỉ có 10% đến 20% trong số 5 tỷ dân có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn, như thế chấp tài sản, thẻ tín dụng, trái phiếu, các dạng của chúng từ giấy mà bạn có thể tích luỹ giá trị và do đó, việc chuyên môn hoá có thể diễn ra trong một thị trường rộng lớn. Qua đó, điều mà chúng ta thấy rõ là 4 tỷ người còn lại – chiếm đến 2/3 dân số thế giới, đã không tham gia vào hệ thống này. Hay nói đúng hơn, họ không có giấy chứng nhận để gia nhập hệ thống, không có quyền sở hữu những tài sản thực tế là của họ, không có giấy phép cho công việc kinh doanh và những công cụ cần thiết để tính toán giá trị cũng như phương tiện luật pháp để đưa ra quyết định kinh doanh và chuyển nhượng vốn. Chứng từ giấy, đương nhiên, không chỉ đơn giản chứng minh quyền sở hữu của bạn. Nó cũng như con dao hiệu Army Thuỵ Sỹ, có rất nhiều lưỡi dao mà quyền sở hữu chỉ là một. Anh có thể dùng nó để làm tín dụng thế chấp hoặc như một công cụ đầu tư.
Tại sao kinh tế thị trường không đến với đại đa số người dân? Không phải bởi vì họ đã thử và không thể thích ứng với chúng. Không, vấn đề là kinh tế thị trường chưa bao giờ đến với họ. Kinh tế thị trường về cơ bản không phải là kinh doanh nhỏ bò hay lợn ngay tại chợ mà nằm ở giấy tờ sở hữu con bò hay con lợn đó. Khi chúng ta nói về kinh tế thị trường, chúng ta đang nói về dạng thị trường như thị trường trao đổi hàng hoá Chicago; Khi một người có giấy chứng nhận sở hữu 30.000 đầu gia súc, điều đó cũng có nghĩa là anh không phải nhìn tận mắt từng con bò. Một chứng từ giấy như vậy sẽ cho anh biết đầy đủ thông tin về đàn bò đó mà không cần nhìn thấy chúng. Anh sẽ biết được đàn bò đó có bao nhiêu con, thuộc quyền sở hữu của ai và chúng sẽ được bán trong điều kiện nào.
Với một chứng từ giấy như thế, anh sẽ có thể mua một đàn gia súc 30.000 con chỉ trong nháy mắt. Anh cũng có thể kinh doanh với số lượng lớn hoặc thậm chí mua – bán một nhà máy bằng cách chia nhà máy đó thành hàng trăm cổ phần. Hay nói cách khác, anh vừa có thể phối hợp và tổ hợp lại, vừa có thể bổ sung tài sản để tạo thêm của cải.
Đó chính là điều mà Adam Smith đã phát hiện khi ông đề cập đến “sự phân chia lao động ở một thị trường rộng hơn”. Nhưng để làm được điều đó, anh cần phải có chứng từ hợp pháp, đảm bảo tài sản anh sắp có đúng là thứ anh đã được giới thiệu và giao dịch của anh sẽ phải thực hiện theo những quy tắc cụ thể, tuân theo sự phán quyết của luật pháp và cảnh sát. Vậy thì có bao nhiêu người trong số 5 tỷ dân – những người không nằm trong nhóm được gọi là “phương Tây” -  có những loại giấy chứng nhận như vậy cho tài sản của họ? Và có bao nhiêu giấy tờ được khung luật pháp bảo vệ khi anh tiến hành giao dịch kinh doanh? Chỉ có khoảng 500 triệu hay nhiều nhất là 1 tỷ người trong số đó có phương tiện cần thiết để tích luỹ vốn và tham gia vào các hoạt động kinh tế ở thị trường rộng lớn hơn. Đó là lý do tại sao kinh tế thị trường thất bại ở bên ngoài biên giới các nước phương Tây. Và chúng ta cũng đã không nhận ra điều đó cho mãi đến bây giờ, khi khả năng hàng hoá xuất hiện dưới dạng giấy tờ và được hệ thống luật hướng dẫn đã trở thành công cụ kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường.
Ông đã kết luận rằng đại đa số người dân ở các nước đang phát triển sở hữu những tài sản đáng kể dưới dạng “vốn chết” – và không thể sử dụng. Ông hãy giải thích điều đó.
Ngay cả người nghèo cũng có tài sản. Người này có bò, còn người khác lại có lợn. Anh này có xe đạp, anh kia lại có mô tô, xe buýt, xe tải, xí nghiệp nhỏ hay ngôi nhà. Hầu hết mọi người đều có một thứ gì đó. Nếu họ không có thứ gì, họ sẽ bị chết đói. Và hầu hết mọi người ở các nước đang phát triển đều không nghèo khổ đến mức đó. Tôi không nói là có một số người thực sự nghèo khổ – người nghèo nhất trong những người nghèo. Nhưng hầu hết người dân đều đang tham gia vào công cuộc xây dựng thành phố, vào các hoạt động kinh tế và ít hay nhiều vẫn tồn tại được.
“Vốn chết” là tất cả tài sản người dân sở hữu nhưng không mang được vào đời sống, do đó, không thể đổi thành vốn tài chính hay vốn đầu tư. Với hầu hết người dân Peru, Ai Cập, Nga hay Trung Quốc, ngôi nhà là nơi họ cư trú khi giá lạnh hay mưa bão. Nó mang giá trị vật chất. Nhưng nếu anh là người Mỹ, ngôi nhà còn mang rất nhiều giá trị khác. Ví dụ, nó được sử dụng để làm tài sản thế chấp. Vì thế, khi anh sống trong ngôi nhà của anh, nó còn đồng thời tạo ra giá trị cho anh trên thị trường tài chính. Nó có một cuộc sống khác song song. Thông qua giấy chứng nhận quyền sở hữu, anh có thể mang nó đi đầu tư vì nó thực sự có giá trị đầu tư.
Và ngôi nhà của anh còn mang địa chỉ của anh. Nếu anh biết rằng de Soto sống ở đây, anh sẽ có thể cấp năng lượng và điện cho ông ta, hoặc anh thu thuế hay mời ông ta làm đối tác kinh doanh. Ngày nay, tới 80 đến 90% người dân Peru và Ai Cập không có địa chỉ được pháp luật thừa nhận, vậy làm sao chúng có thể có cuộc sống khác song song.
Chúng ta đang bắt đầu hiểu tại sao luật sở hữu tài sản không chỉ cho phép anh khiếu nại về quyền sở hữu mà còn giúp anh giải phóng chúng và tạo ra giá trị thặng dư – điều mà Marx gọi là vốn. Ngược lại, khi vốn không được sinh ra theo cách đó, Adam Smith sẽ gọi thuật ngữ là “vốn chết”.
Trên thực tế, chỉ riêng Ai Cập, người nghèo có 240 tỷ đô la dưới dạng bất động sản, tương đương với tổng đầu tư vào Ai Cập trong hơn 200 năm qua, bao gồm cả đầu tư vào kênh đào Suez và đập Aswan. ở Peru, người nghèo nắm trong tay gần 70 tỷ đô-la, tương đương với giá trị xuất khẩu của Peru trong 20 năm tới và ít nhất bằng 6 lần giá trị thị trường chứng khoán. Còn ở Mexico, con số đó tương đương với 320 tỷ đô la đất đai và công việc kinh doanh, tức là lớn hơn rất nhiều lần giá trị dầu mỏ của nước này, cùng với  xi-măng, và tất cả các doanh nghiệp quốc doanh cũng như tư nhân gộp lại. ở các nước đang phát triển, tổng giá trị bất động sản của người nghèo nhưng không được hệ thống luật sở hữu bảo vệ – theo thống kê ít nhất là 9.3 nghìn tỷ -  gấp 2 lần lượng cung tiền lưu thông ở Hoa Kỳ.
ở những nước đang phát triển, người dân nghèo đang sở hữu tài sản theo cách người Châu Âu và Bắc Mỹ hàng trăm năm trước đây – tức là, không có quyền sở hữu. Những tài sản của họ chỉ được ràng buộc và bảo vệ bằng các hợp đồng xã hội địa phương – thoả thuận trong nội tộc hay với hàng xóm theo các luật lệ bất thành văn – và do đó, hàng hoá của họ chỉ có thể trao đổi, buôn bán trong một phạm vi nhỏ. Do đó, điều kiện tất yếu và tiên quyết để phát triển – phân chia lao động trong thị trường rộng lớn hơn, điểm mấu chốt cho vấn đề toàn cầu hoá - đã không xẩy ra ở các quốc gia đang phát triển. Ví dụ, giữa một số khu vực  lân cận nhất định ở Lima, ở Cairo và Bắc Kinh, anh có thể buôn bán và trao đổi hàng hoá. Nhưng anh không thể tiến hành giao dịch ở một cấp độ quốc gia, vì thế họ thậm chí không thể toàn cầu hoá nội tại ở cấp độ quốc gia.
Như vậy là theo ông, họ thiếu quyền sở hữu tài sản?
Vâng, điều đó là chính xác. Hay nói cách khác, họ cần phải có những chứng từ công nhận quyền sở hữu theo dạng chuẩn, bằng giấy và lưu thành hồ sơ, có hiệu lực ít nhất ở cấp độ quốc gia. Bằng cách đó, họ có thể dùng giấy tờ để kinh doanh buôn bán.
Hãy nói cho tôi biết, khi anh sở hữu một phần hãng Motor General hoặc tập đoàn Microsoft, anh sẽ mang chúng theo như thế nào? Trong một chiếc va li nhỏ hay trong một hộp đựng thuốc? Hay mảnh giấy chứng thực sở hữu của anh? Và một phần quyền sở hữu đó cũng có thể là khoản anh nợ tôi, vì thế, nó là trái phiếu, và tôi có thể giao dịch trên thị trường thứ cấp để có lợi nhuận. Đó chính là kinh tế thị trường. Và đó chính là điều mà ngày nay, phần lớn người dân trên toàn thế giới không thể làm được.
Và ở các nước đang phát triển, khi người dân đòi quyền sở hữu tài sản, họ thường thất bại. Vì nếu anh muốn đăng ký sở hữu một đụn cát ở Ai Cập, ngoại ô Cairo, anh sẽ phải mất đến 17 năm cho những thủ tục hành chính và ở Manila, con số mà chúng tôi nghiên cứu được là khoảng 54 năm.
Liệu nguyên nhân có phải do thủ tục hành chính ở những nước này thực sự kém cỏi?
Chúng tôi đã tìm ra nguyên nhân không chỉ do có quá nhiều thủ tục hành chính. Vấn đề còn nằm ở luật pháp quá tồi. ở Peru, khi chúng tôi bắt đầu điều tra theo kiểu rất sơ khai, bằng cách đếm xem trong một năm, một quốc gia nghèo đang phát triển chỉ với 25 triệu dân sẽ ban hành bao nhiêu quy tắc luật? Và câu trả lời là: 28.000.
Trong các chế độ dân chủ mà mọi chức năng đều vận hành tốt, chi phí cho các quy tắc và luật lệ chủ yếu dành cho hệ thống ra quyết định và có sự tự hiệu chỉnh. Nhưng ở các quốc gia đang phát triển, do luôn luôn thiếu các hệ thống chính trị và hành chính, họ không thể thu được những thông tin phản hồi có khả năng so sánh được. Và kết quả là anh chỉ thu được hàng núi văn bản, giấy tờ, những thứ đang thực sự chia xã hội làm 2 phần. Một phần luật lệ được áp dụng cho thiểu số giới tinh hoa của xã hội, đảm bảo quyền sở hữu cho nhà cửa và công việc kinh doanh của họ. Còn lại phần lớn dân số không có sự hậu thuẫn về mặt luật pháp để đảm bảo cho tài sản chủa mình.
Hơn 40 năm về trước, phần lớn dân nghèo ở các nước đang phát triển sống ở những vùng xa thành thị. Nhưng 40 năm qua, những thành phố lớn như thủ đô Portau-PrinceHaiti đã phát triển gấp 16 đến 17 lần so với trước đây. Còn hầu hết các thành phố đều tăng trưởng ít nhất từ 7 đến 8 lần. Cũng có rất nhiều điều được viết về những thành phố đang vươn lên này. Nhưng điều mà chúng tôi vừa khám phá ra là tác động của luật lệ đến sự tăng trưởng dân số một cách nhanh chóng này, mang dáng dấp của chủ nghĩa “apartheid tài sản” (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc về tài sản).
Tôi sử dụng thuật ngữ “apartheid tài sản” bởi vì từ “apartheid” ám chỉ anh dùng hệ thống luật để phân biệt đối xử. Người dân nghèo không thể sống ở khu vực thị trấn, nơi luật lệ quá rõ ràng mà họ sống ở những vùng phụ cận. Mà các quy luật áp dụng cho vùng phụ cận, từ Manila cho tới Cairo, và Thành phố Mêhicô là hoàn toàn khác nhau. Như nhà lịch sử học người Pháp, Fernand Braudel đã nói, cũng giống như khi anh đặt một tấm kính chắn tách riêng một phần của thành phố - khu vực của các chính trị gia và những nhà chính trị – ngụ ý khu vực “phương Tây”. Khi đó, khu vực còn lại, chiếm 80 đến 90% dân số sẽ sống trong một rừng luật lệ được áp dụng chưa đúng và chính điều đó giữ người dân trong cảnh nghèo khổ.
ở các nước đang phát triển, chúng ta đã và đang cố gắng tạo ra một môi trường pháp lý thân thiện hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu thực hiện được, điều đó sẽ rất tốt. Nhưng chúng ta cũng đã quên mất nhìn lại, liệu hệ thống pháp luật ở đây có cởi mở chào đón số lượng các nhà đầu tư  ít ỏi, bởi vì bản thân người nghèo – như chúng ta đã thấy ở trên – còn thực sự có nhiều tài sản hơn các nhà đầu tư nước ngoài.
Điều mà chúng ta phải làm là lập nên một dạng cơ chế "hợp đồng"; trong đó, những văn bản, hồ sơ sẽ cho phép người nghèo huy động tất cả giá trị tài sản, nguồn nhân lực của họ đang được tích luỹ để tạo thành các quỹ dưới dạng đầu tư tài chính. Tất cả các quỹ đó chính là nguồn để tạo ra của cải.
Ông cực lực phản đối ý kiến cho rằng, sự thành công hay thất bại của kinh tế thị trường được quyết định bởi những khác biệt về văn hoá. Tại sao?
Nếu có một hệ thống pháp luật tốt, anh không cần phải có một hệ văn hoá thật đặc biệt. Hãy nhìn vào Hoa Kỳ mà xem. Họ thừa hưởng truyền thống của Anh quốc. Cho đến trước thế kỷ 19, khi họ quyết định chia California thành 800 phân khu – cũng tương tự đối với bang Texas -  họ đã không đi theo luật lệ của Anh nữa. Hoa Kỳ đã ứng dụng ngay “luật của người dân”: nhân dân cần đất đai, đồng thời trốn chạy khỏi sự áp bức. Hoa Kỳ thiết lập ngay một hệ thống luật mới – không phải chỉ là luật thông thường mà là luật được quy định, như Đạo luật Trang trại – thành bộ luật chính.
Tôi nghĩ rằng lấy sự khác biệt về văn hoá để giải thích cho sự thành công hay thất bại của kinh tế thị trường đã được thừa nhận rộng rãi, một phần vì không ai có cách giải thích nào tốt hơn, như câu khẳng định “Anh phải giống người Anglo-Saxons”. Giờ đây, chúng ta đã tìm thấy một câu trả lời có ích hơn. Ở Hoa Kỳ, để có một tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu chuyển một tài sản thành vốn luân chuyển và hợp đồng có hiệu lực: tất cả chỉ cần một vài giờ hoặc một vài ngày. Còn ở những quốc gia như đất nước tôi, đó là vấn đề của hàng thế kỷ. Và chúng ta đã xác định được sự khác biệt cơ bản. Luật pháp là thứ mà chúng ta có thể sửa đổi bởi vì chúng ta có thể chỉ ra điểm còn vướng mắc nằm ở đâu.
Theo ông, điều gì sẽ xẩy ra nếu mọi người bắt đầu thực hiện những điều mà ông đã đề cập trong cuốn sách “Sự bí ẩn của vốn”?
Chúng ta sẽ có nhiều nước giống như Hoa Kỳ hơn, nơi mọi người không được bỏ vốn đủ. Chúng ta sẽ có nhiều quốc gia giống như Tây Âu hơn, nơi mà tài sản không cấp vốn đủ. Chúng ta sẽ đưa tài sản thành vốn luân chuyển trong hệ thống. Và chúng ta sẽ đưa vô số thông tin như: ai sở hữu cái gì và quyền nào được bán, còn quyền nào thì không, và chúng ta sẽ biết tài sản nào có thể kết hợp với tài sản khác để tạo ra của cải.
Nó sẽ thực sự là cuộc cách mạng.
Tất nhiên! Đó chính là điều mà Hoa Kỳ đã và đang làm hơn 200 năm qua.     
Tài liệu tham khảo
•         Globalist Bookshelf. "The Mystery of Capital" Left Out of the Capitalism Game By Hernando de Soto.
Saturday, July 07, 2001.
•         The Hidden Architecture of Capitalism By PETER COY. Coy is associate economics editor.
•         The Rules of the Capitalist Game. Hernando de Soto explains how to make capitalism work for everybody. Interview by Michael Cromartie. 1/2001.
•         Why the World's Poor Stay That Way-THE MYSTERY OF CAPITAL: Why Capitalism Triumphs in the West and Fails Everywhere Else By Hernando de Soto Basic Books.
[1] Phóng viên Michael Cromartie của Viện Chính sách công ở
Washington, D.C  đã trò chuyện với De Soto khi ông đến thăm viện này vào 1/2001.
Tác giả: Hernando de Soto.
Phạm Quang Diệu - biên dịch (2004)

Source: http://home.trithucvn.net/taichinh/781-hoclam--giau

+) 1st time reflection: Tóm lại vấn đề nằm ở hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính rườm rà, cồng kềnh gây cản trở làm mất thời gian và vấn đề quyền sở hữu k rõ ràng đã kìm hãm các nước đang phát triển, tạo nên sự chênh lệch giữa "phương tây" và "phương đông"

Một số chỉ số kinh tế quan trọng

Một số chỉ số kinh tế quan trọng được các nhà đầu tư trên thị trường theo dõi sát sao:  PMI, PPI, yield curve, ECI, CCI

PMI
Chỉ số quản lý mua hàng PMI (Purchasing Managers Index) phản ánh sức khỏe của khu vực sản xuất. Chỉ số này được tính bằng tỷ lệ phần trăm số nhà quản lý phụ trách việc mua hàng cho rằng tình hình kinh doanh tháng này tốt hơn tháng trước.Dữ liệu phân tích PMI được thu thập qua một cuộc khảo sát 400 nhà quản lý phụ trách việc mua hàng thuộc khu vực sản xuất về 5 yếu tố với trọng số cho từng yếu tố khác nhau: sản lượng (25%), số đơn đặt hàng mới (30%), tốc độ giao hàng của nhà cung cấp (15%), hàng tồn kho (10%) và tình trạng việc làm (20%).

thị trường chứng khoán luôn có biến động mạnh nếu PMI được công bố không đúng như dự đoán của nhà đầu tư. PMI có khoảng dao động từ 0-100 (%), trong đó, mốc 50 điểm là ranh giới giữa sự thu hẹp và mở rộng sản xuất.
Tại Mỹ, PMI được Viện quản lý nguồn cung ISM công bố thường kỳ vào 10h sáng (giờ miền Đông) ngày làm việc đầu tiên mỗi tháng. Từ tháng 10/2003, JPMorgan cho ra đời chỉ số PMI toàn cầu theo kết quả cuộc khảo sát 7600 giám đốc mua hàng từ 26 quốc gia, chiếm 83% GDP toàn cầu. Kể từ tháng 8, PMI toàn cầu đã vượt mốc 50, cho thấy kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục.

 PPI
Việt Nam hiện đang đo mức độ lạm phát dựa trên chỉ số CPI, ngoài ra, một số nước trên thế giới còn đang sử dụng một chỉ số quan trọng không kém, đó là Chỉ số giá sản xuất PPI (Producer Price Index).
 Khác với CPI chỉ tính tới giá cả hàng hóa dịch vụ tới tay người tiêu dùng, PPI lại phản ánh biến động giá cả hàng hóa đầu vào của nhà sản xuất nội địa.
 PPI tăng gây áp lực tăng giá sản phẩm đầu ra cho doanh nghiệp nên chỉ số này phần nào cũng báo hiệu trước lạm phát có thể xảy ra. Tuy vậy, doanh nghiệp cũng có thể chọn giải pháp giảm lợi nhuận và giữ nguyên giá bán. Do đó, PPI không phản ánh tình hình lạm phát chính xác như CPI. Cục thống kê lao động Mỹ thu thập giá cả của trên 100.000 mặt hàng để tính ra chỉ số PPI và công bố lúc 8h30 giờ miền Đông vào tuần thứ hai hoặc ba mỗi tháng.

Đường cong lợi suất
Đường cong lợi suất (yield curve) thể hiện mối quan hệ giữa lợi suất và thời gian đáo hạn của các loại chứng khoán nợ có xếp hạng tín dụng bằng nhau. Thông thường, thời gian đáo hạn càng dài thì lợi suất càng cao để bù đắp lại rủi ro cho nhà đầu tư (đường cong lợi suất chuẩn hay lồi). Tuy vậy, trong một số trường hợp đặc biệt, đường cong này còn có hai hình dạng đặc biệt khác. 
Khi nhà đầu tư có các phán đoán trái ngược nhau về diễn biến tiếp theo của thị trường, lợi suất cả ngắn và dài hạn đều không thể hiện xu hướng biến động rõ ràng tạo nên một đường lợi suất phẳng.  
Đường lợi suất phẳng báo hiệu nền kinh tế sắp có biến chuyển lớn, có thể từ suy thoái sang tăng trưởng hoặc ngược lại. Đường cong có dạng lõm chỉ xuất hiện khi nền kinh tế sắp rơi vào suy thoái, theo đó vay nợ càng dài lợi suất càng giảm. 
 Lý do là các doanh nghiệp trong ngắn hạn đang rất “khát vốn”, do đó họ chấp nhận trả lãi suất cao để vay được tiền. Hiện đường cong lợi suất thuộc dạng lồi, báo hiệu nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng.
 Khi nhà đầu tư có các phán đoán trái ngược nhau về diễn biến tiếp theo của thị trường, lợi suất cả ngắn và dài hạn đều không thể hiện xu hướng biến động rõ ràng tạo nên một đường lợi suất phẳng.  
 Hiện đường cong lợi suất thuộc dạng lồi, báo hiệu nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng.
 (Theo Cẩm nang ngân hàng đầu tư – Mạc Quang Huy)

 ECI
Đầu mỗi quý, Cục thống kê lao động Mỹ công bố Chỉ số chi phí việc làm ECI (Employment Cost Index) dựa trên kết quả khảo sát bảng lương vào tháng cuối cùng của quý trước đó. ECI đo lường sự biến động của lương thưởng trên một giờ lao động của nhân công qua các quý.
 ECI không chỉ tính đến khoản “lương cứng” của người lao động mà còn cả tiền thưởng và các khoản phúc lợi khác như bảo hiểm thất nghiệp, chăm sóc y tế… Tuy vậy, nó không tính tới các khoản làm thêm ngoài giờ.
 Lương thường tăng trước khi nhà sản xuất tăng giá sản phẩm. Do đó, nếu lương tăng (hay ECI tăng) nghĩa là nền kinh tế đang có nguy cơ lạm phát. Vì vậy, ECI ảnh hưởng trực tiếp mạnh tới thị trường chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu.
 Cựu Chủ tịch FED Alan Greespan từng nói: “Để hiểu được nền kinh tế Mỹ, nhất thiết phải hiểu được chỉ số ECI. Nó đảm bảo tính chính xác cho số liệu về chi phí lao động, để từ đó đưa ra chính sách kinh tế hay kế hoạch kinh doanh.”
 (Theo BLS, Investopedia)
  
CCI
Khác với các chỉ số trên đến từ cơ quan chính phủ, chỉ số niềm tin tiêu dùng CCI (Consumer Confidence Index) do tổ chức phi lợi nhuận Conference Board công bố, đo lường mức độ lạc quan của người tiêu dùng đối với nền kinh tế. CCI càng cao, người tiêu dùng càng tin tưởng vào việc làm và thu nhập của mình, vì thế, họ cũng dám chi tiêu hơn. Kết quả là nền kinh tế tăng trưởng nhờ tiêu dùng tăng.
 Tuy vậy, quy mô điều tra của chỉ số này là khá nhỏ, chỉ khoảng 5.000 hộ gia đình. Hơn nữa, kết quả điều tra lại phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến chủ quan của người được hỏi. Ví dụ như giá dầu tăng từ 60 lên 70 đô la/thùng có thể khiến người tiêu dùng có cảm giác lo ngại vì mình bị “nghèo đi” nhưng thực tế, tiền mua xăng chỉ chiếm có 5% chi tiêu. Tuy không ảnh hưởng mấy tới ví tiền, nhưng nó lại gây tác động xấu tới câu trả lời khi thu thập số liệu cho CCI.

SOURCE: http://home.trithucvn.net/taichinh/680-mt-s-ch-s-kinh-t-quan-trng-   [NICE WEB! xxx]

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Vấn đề khi copy table

Khi paste table nếu chữ trong table gồm cả hình ảnh và chữ mà chữ bị chuyển ra ngoài:
--> chuột phải chọn display as a table

Copy hình từ pdf

C1 Dùng printscreen và paint
C2 Tools --> Snapshot --> Kéo chọn hình cần copy --> chuột phải copy --> paste

Lùi đầu dòng văn bản trong word

Bôi đen đoạn cần lùi đầu dòng. Trên thanh ruler dịch chuyển tam giác trên cùng đến vị trí muốn lùi